Xe điện đã “phủ kín” Trung Quốc như thế nào? | Put In | Thế Giới
By Spiderum
TechnologyBusinessFinance
Share:
Key Concepts
- Cấm xe máy xăng dầu trong vành đai 1 Hà Nội từ 2026
- Xe năng lượng mới (NEV)
- Chính sách tín dụng kép (Dual Credit Policy)
- Chương trình 863
- Pin lithium sắt phosphat (LFP)
- Buồng lái thông minh (Smart Cockpit)
- Hạ tầng sạc (Charging Infrastructure)
- Chuỗi cung ứng pin (Battery Supply Chain)
Giai đoạn 2000-2008: Quyết định đổi sân chơi
- Phân tích chiến lược: Trung Quốc nhận thấy khó cạnh tranh với các cường quốc ô tô truyền thống về công nghệ động cơ đốt trong (ICE).
- Quyết định chiến lược: Chuyển hướng sang xe điện (EV) vì đây là lĩnh vực mới, ít lợi thế cho các quốc gia đã phát triển.
- Động lực:
- Giải quyết ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn.
- Giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu, đảm bảo an ninh năng lượng.
- Kiến trúc sư trưởng Wang Gang: Đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục chính phủ đầu tư vào xe điện. Ông có tầm nhìn chiến lược dài hạn và mong muốn tạo ra một hệ sinh thái thống nhất. "Sẽ có một chiến lược trong 10 đến 20 năm tới và chúng ta cần phải hành động ngay."
- Chương trình 863: Từ năm 2001, chương trình này tích hợp khái niệm NEV, tập trung vào nghiên cứu và phát triển các công nghệ cốt lõi: pin, động cơ điện và hệ thống điều khiển chuyển động. Mục tiêu là làm chủ công nghệ, không phụ thuộc vào nhập khẩu.
- Ví dụ Gosion Hightech: Tham gia chương trình 863, phát triển và sản xuất pin cho xe buýt điện. Năm 2010, tuyến xe buýt điện đầu tiên trên thế giới sử dụng pin của Gosion ra mắt tại Hợp Phì.
- Thế vận hội Bắc Kinh 2008: Trình diễn 500 phương tiện năng lượng mới, đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu sang ứng dụng thực tế.
Giai đoạn 2009-2025: Kiến tạo thị trường bằng siêu cấu trúc chính sách
- Chiến lược: Sử dụng ma trận các công cụ kết hợp kích thích nhu cầu (pull) và buộc nhà sản xuất chuyển đổi (push).
- Chính sách "kéo" (Pull): Thúc đẩy tiêu dùng NEV thông qua hỗ trợ tài chính và chương trình thí điểm.
- Trợ cấp trực tiếp: Chính phủ trung ương và địa phương chi tiền trợ cấp cho người mua xe điện. Ước tính tổng trợ cấp trong 15 năm là 231 tỷ đô la.
- Miễn và giảm thuế: Miễn thuế mua hàng, tính đến cuối năm 2022 đã vượt 200 tỷ nhân dân tệ. Dự kiến từ 2024-2027 có thể lên tới 520 tỷ nhân dân tệ. Các nhà sản xuất xe điện còn được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 15%.
- Chính sách "đẩy" (Push): Bắt buộc các nhà sản xuất chuyển đổi, đỉnh cao là cơ chế tín dụng bắt buộc.
- Chính sách tín dụng kép (Dual Credit Policy): Áp dụng từ 2017, đặt ra hai mục tiêu song song cho mỗi nhà sản xuất ô tô:
- Mức tiêu thụ nhiên liệu trung bình của công ty (CAFC): Không vượt quá ngưỡng nhất định. Nếu thấp hơn ngưỡng, có tín dụng CAFC dương. Nếu cao hơn, bị thâm hụt.
- Tín dụng xe năng lượng mới (NEV): Sản xuất một tỉ lệ phần trăm nhất định xe NEV (xe điện thuần túy, xe hybrid sạc ngoài, xe pin nhiên liệu).
- Liên kết bất đối xứng: Thâm hụt CAFC có thể bù bằng tín dụng NEV dương, nhưng ngược lại thì không. Thâm hụt tín dụng NEV phải mua từ các công ty khác có thặng dư.
- Thị trường mua bán tín dụng: Các công ty như BYD bán tín dụng NEV cho các nhà sản xuất xe truyền thống.
- Chính sách tín dụng kép (Dual Credit Policy): Áp dụng từ 2017, đặt ra hai mục tiêu song song cho mỗi nhà sản xuất ô tô:
- Vai trò của chính quyền địa phương:
- Chương trình thí điểm "10 thành phố 1000 phương tiện": Đưa ít nhất 1000 xe năng lượng mới vào hoạt động mỗi năm tại các thành phố thí điểm.
- Ưu đãi về biển số: Tại các thành phố lớn như Bắc Kinh và Thượng Hải, việc đăng ký xe điện miễn phí và không cần chờ đợi, trong khi xe xăng rất khó khăn và tốn kém.
- Biển số xanh và các đặc quyền khác: Miễn phí đỗ xe, được đi vào làn đường dành riêng cho xe buýt.
- Triển khai hạ tầng sạc khổng lồ:
- Triết lý: Xây đường trước cho xe chạy sau.
- Số lượng: Từ 30.000 (2014) lên hơn 11 triệu trụ sạc (quý 3/2024). Bao gồm 3,33 triệu trụ sạc công cộng và 8,1 triệu trụ sạc tư nhân.
- Tốc độ tăng trưởng: 2,84 triệu trụ sạc mới trong 9 tháng đầu năm 2024, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm ngoái.
- Tỉ lệ xe trên trụ sạc: Khoảng 2,46 xe trên một trụ sạc.
- Thị trường vận hành sạc:
- Doanh nghiệp nhà nước: State Grid Corporation of China (SGCC) và China Southern Power Grid đóng vai trò xương sống.
- Nhà khai thác tư nhân: TD và Star Charge cạnh tranh để giành thị phần.
- Nhà sản xuất xe điện tự xây dựng mạng lưới: NIO, Xang và Zer đầu tư vào trạm sạc nhanh.
- Hợp tác: Xiaomi hợp tác với Neo, Xang và Le Auto để tích hợp mạng lưới sạc.
- Phủ sóng hạ tầng sạc trên đường cao tốc: 97% khu vực dịch vụ đường cao tốc đã được lắp đặt trạm sạc điện (33.000 trạm sạc và 49.000 vị trí đỗ xe có khả năng sạc).
- Mở rộng ra khu vực nông thôn: 417.000 trụ sạc được lắp đặt tại các khu vực huyện và thị trấn.
Rèn dũa một hệ sinh thái và định hình tương lai
- Hệ sinh thái công nghiệp toàn diện: Kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị từ khai thác khoáng sản đến phần mềm tự lái.
- Ba trụ cột chính:
- Làm chủ chuỗi cung ứng pin:
- Kiểm soát nguyên liệu thô: Đầu tư ra nước ngoài để đảm bảo nguồn cung lithium, Coban và Than Trì. Dự kiến đến cuối năm 2025, Trung Quốc sẽ kiểm soát tới 50% sản lượng Coban và 32% sản lượng lithi thiểm tinh chế trên toàn cầu.
- Thống trị sản xuất linh kiện: Chiếm thị phần áp đảo trong sản xuất bốn thành phần cốt lõi của pin Lithium ion.
- Sự trỗi dậy của các nhà vô địch: CATL trở thành nhà sản xuất pin xe điện lớn nhất thế giới, BYD là nhà sản xuất pin lớn thứ hai.
- Đột phá công nghệ pin: Thành công với công nghệ pin lithium sắt phosphat (LFP), có ưu điểm về chi phí và độ an toàn.
- Đổi mới các mô hình kinh doanh để giải quyết các rào cản của người dùng:
- Tiên phong trong cuộc chiến công nghệ mới về buồng lái thông minh và tự lái:
- Buồng lái thông minh: Trải nghiệm bên trong cabin trở thành yếu tố quyết định khi mua xe. Người tiêu dùng mong đợi màn hình cảm ứng lớn, trợ lý giọng nói thông minh và kết nối liên mạch với hệ sinh thái điện thoại.
- Cuộc đua công nghệ tự lái: Các công ty như Expang tập trung vào phát triển các hệ thống lái bán tự động.
- Làm chủ chuỗi cung ứng pin:
Khó khăn bởi sự dư thừa và chiến tranh thương mại
- Dư thừa công suất và làn sóng phá sản:
- Công suất sản xuất xe điện có thể lên tới 20 triệu xe mỗi năm, nhưng chỉ khoảng một nửa được sử dụng.
- Tồn kho xe du lịch đã lên tới 3,5 triệu chiếc vào tháng 0 năm 2025.
- Dự đoán hơn 90% trong số 129 thương hiệu xe điện hiện có ở Trung Quốc có thể sẽ không đạt được lợi nhuận trong vòng 5 năm tới.
- Thách thức ở vùng nông thôn: Thiếu hụt hạ tầng sạc, giá cả xe vẫn còn cao, thiếu các mẫu xe thực dụng.
- Giao cản thương mại toàn cầu:
- Liên minh Châu Âu (EU) áp đặt thuế bổ sung lên tới 38,1% đối với xe điện Trung Quốc.
- Hoa Kỳ và Canada cũng áp đặt hoặc tuyên bố sẽ áp đặt các mức thuế quan rất cao.
- Các nhà sản xuất Trung Quốc chuyển đổi chiến lược sang mô hình toàn cầu hóa sâu hơn, sản xuất tại thị trường cho thị trường.
Kết luận
- Công thức thành công:
- Tầm nhìn chiến lược dài hạn.
- Siêu cấu trúc chính sách đa tầng.
- Đầu tư hạ tầng đi trước một bước.
- Vun trồng hệ sinh thái công nghiệp tự chủ.
- Bài học: Cam kết chính trị dài hạn, vai trò chủ động của nhà nước trong đầu tư hạ tầng, cân bằng giữa hỗ trợ và cạnh tranh, tầm quan trọng chiến lược của việc làm chủ chuỗi giá trị.
Chat with this Video
AI-PoweredHi! I can answer questions about this video "Xe điện đã “phủ kín” Trung Quốc như thế nào? | Put In | Thế Giới". What would you like to know?
Chat is based on the transcript of this video and may not be 100% accurate.