Cuộc đời Nguyễn Chí Thanh - vị Đại tướng thứ hai của QĐND Việt Nam | Trần Phan | Thế Giới

SpiderumAbout 15 min readMar 25, 2025Watch original
THE SUMMARYAI-generated

Key Concepts

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chiến tranh Việt Nam, Chiến thuật quân sự (Nắm thắt lưng địch mà đánh, Tìm Mỹ mà đánh, Lùng Ngụy mà diệt), Chiến dịch Bình Giã, Chiến dịch Đồng Xoài, Trận Bàu Bàng, Trận thung lũng Ia Drang, Chiến dịch Junction City, Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Chính ủy, Chiến tranh nhân dân, Phong trào Đại Phong.

Thuở Thiếu Thời và Bước Đầu Tham Gia Cách Mạng

Nguyễn Chí Thanh (tên thật Nguyễn Vịnh), sinh năm 1914 tại Huế, xuất thân từ gia đình trung nông. Năm 14 tuổi, ông phải bỏ học đi làm tá điền sau khi cha mất. Năm 1934, ông tham gia phong trào Mặt trận Bình dân và tiếp xúc với cách mạng. Năm 1936, ông tham gia tích cực vào phong trào cách mạng tại Thừa Thiên Huế, vận động quần chúng, kêu gọi tự do dân chủ và phát hành báo "Nhành Lúa". Năm 1937, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này là Đảng Cộng sản Việt Nam) và xây dựng mối quan hệ với Lê Duẩn. Năm 1938, ông được giao trọng trách Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Hoạt Động Cách Mạng và Thời Gian Trong Nhà Tù

Cuối năm 1938, Nguyễn Vịnh bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ Huế. Năm 1940, ông bị tăng án và đày đến nhà tù Lao Bảo rồi Buôn Ma Thuột. Năm 1942, ông vượt ngục thành công. Năm 1943, ông bị bắt lại và quay trở lại nhà tù Buôn Ma Thuột. Năm 1945, trong sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ông lại vượt ngục và hoạt động quanh vùng Nam Trung Bộ. Sau khi ra tù, ông được bầu làm Bí thư Khu ủy khu 4 và tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Tại đây, Hồ Chí Minh đặt tên cho ông là Nguyễn Chí Thanh.

Hoạt Động Sau Cách Mạng Tháng Tám và Kháng Chiến Chống Pháp

Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Chí Thanh tiếp tục hoạt động tại Thừa Thiên và lãnh đạo kháng chiến chống Pháp. Năm 1947, khi quân Pháp đánh chiếm các huyện, ông chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng, tổ chức hội nghị Nam Dương và triển khai chiến tranh du kích. Ông giành thắng lợi đầu tiên tại vùng đồn Đất Đỏ, đồn Hộ Thành và được phong làm Bí thư Phân khu ủy phân khu Bình Trị Thiên. Do điều kiện thiếu thốn, ông chủ trương chiến dịch "đánh ôm hè", một chiến thuật phục kích địch. Tháng 1 năm 1949, tiểu đoàn 319 tiêu diệt đoàn tàu chở vũ khí của địch trên đường sắt Hôi Mít. Tháng 11 năm 1949, ông được điều động ra Việt Bắc và phụ trách công việc đối ngoại của phòng Lào Miên Trung ương. Cùng năm, ông đề xuất thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên và đảng ủy trong toàn quân.

Hoạt Động Trong Quân Đội và Công Tác Tuyên Truyền

Đầu năm 1950, Nguyễn Chí Thanh tham gia Ban Tuyên huấn Trung ương và được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn Thanh niên Việt Nam. Cuối năm 1950, ông thành lập báo Quân đội nhân dân và tham gia chiến dịch Trần Hưng Đạo, đồng thời được cử làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1951, ông được cử vào Bộ Chính trị, trở thành Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và Giám đốc kiêm Hiệu trưởng đầu tiên trường Chính trị Trung cấp Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông lãnh đạo tư tưởng trong quân đội, giáo dục chính trị và đảm bảo tinh thần sĩ khí. Ông tham gia các chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào và Điện Biên Phủ với tư cách Đảng ủy viên và Chủ nhiệm Chính trị.

Công Tác Ngoại Giao và Phong Quân Hàm Đại Tướng

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Nguyễn Chí Thanh được cử về khu 4 chỉ đạo công tác tiếp quản. Từ năm 1954 đến 1959, ông tham gia công tác ngoại giao với các nước Chechoslovakia, Bulgar, Liên Xô và Triều Tiên. Ngày 31 tháng 8 năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng. Năm 1960, ông cùng đoàn đại biểu Việt Nam tham gia hội nghị của hơn 80 Đảng Cộng sản các nước tại Mascova. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng năm 1960, ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

Phong Trào Đại Phong và Công Tác Nông Nghiệp

Từ năm 1961 đến 1964, Nguyễn Chí Thanh kiêm nhiệm vai trò giám sát sản xuất nông nghiệp tại Bắc Việt với cương vị trưởng ban nông nghiệp Trung ương. Ông về thăm hợp tác xã Đại Phong và phát động phong trào thi đua lao động sản xuất. Dưới sự quản lý của ông, Đại Phong và các vùng lân cận đã phát triển nông nghiệp theo hướng đa canh đa hộ. Năm 1961, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi thi đua phát triển các làng các xã với khẩu hiệu "Học tập Đại Phong, đuổi kịp Đại Phong, vượt quá Đại Phong". Ông được ghi nhận với danh hiệu "ông tướng nông dân" và "vị tướng phong trào". Năm 1963, ông được cử sang Vũ Hán để tăng cường tình đoàn kết giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Chỉ Đạo Chiến Trường Miền Nam

Năm 1964, Đảng bắt đầu chuẩn bị cho chiến tranh. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được giao trọng trách chỉ đạo chiến trường miền Nam. Ngày 26 tháng 5 năm 1964, ông được cử vào chiến trường miền Nam và nhận lãnh cương vị đại diện Bộ Chính trị và Chính ủy quân giải phóng miền Nam từ năm 1965 đến năm 1967.

Chiến Dịch Bình Giã và Thay Đổi Tư Duy Quân Sự

Được giao nhiệm vụ chỉ đạo chiến dịch đầu tiên của bộ đội chủ lực trên chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ, ngày 28 tháng 12 năm 1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mở cuộc tấn công chiến lược vào làng Bình Giã. Đối đầu với chiến thuật "thiết xa vận" và "trực thăng vận" của địch, ông chủ trương đánh địch ngoài công sự, sử dụng các chiến thuật tập kích, phục kích. Sau khi chiếm được Bình Giã, quân giải phóng chủ động rút lui khi địch cử tiểu đoàn bốn thủy quân lục chiến đến. Ngày 31 tháng 12 năm 1964, quân giải phóng phục kích và tiêu diệt hầu hết lực lượng tiểu đoàn bốn, đồng thời tập kích quân cứu viện. Ngày 1 tháng 1 năm 1965, quân giải phóng rút lui bằng cách lợi dụng địa hình. Chiến thắng Bình Giã góp phần khiến tư duy của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thay đổi, ông tin vào viễn cảnh quân ta chiến thắng được kẻ địch theo lối đánh quy ước.

Bác Bỏ Chủ Trương Cũ và Đề Xuất Chiến Lược Mới

Trước đó, trong nội bộ đảng có hai chủ trương quan trọng: tập trung đánh chỗ yếu của địch và đánh quân địch ở trên chiến trường rừng núi dựa trên chiến lược chung là đánh lâu dài. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã kiên quyết bác bỏ cả hai chủ trương này. Ông tin rằng Quân đội nhân dân Việt Nam có năng lực tiêu diệt từng tiểu đoàn của quân đội Mỹ và chiến thắng trong một cuộc chiến quy ước.

Chiến Dịch Đồng Xoài và Các Trận Đánh Lớn

Tháng 5 năm 1965, giải phóng quân mở cuộc tập kích vào căn cứ không quân Playku của địch. Tháng 5 năm 1965, theo kế hoạch tác chiến của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, quân giải phóng chuẩn bị tiến công vào căn cứ của địch tại Đồng Xoài. Ngày 10 tháng 6, quân giải phóng tiến công bằng súng cối và các thiết bị hỏa lực nhỏ, tiêu diệt vòng phòng thủ ngoài của địch. Quân địch lui vào thế thủ và chờ đợi viện binh. Quân Giải Phóng bố trí hỏa lực phòng không để ngăn cản địch hạ máy bay chở quân cứu viện, đồng thời tiến hành bao vây và tập kích những cánh viễn quân trên đất liền. Ngày 12 tháng 6, quân giải phóng tiêu diệt tiểu đoàn bảy nhảy dù. Tuy vậy, trước lực lượng quân địch hùng mạnh, quân giải phóng chủ động rút lui. Ngày 12 tháng 11 năm 1965, quân giải phóng tổ chức tập kích vào lữ đoàn bộ binh của quân đội Hoa Kỳ ở Bàu Bàng. Do triển khai gấp, các đơn vị chỉ huy cấp độ trung đoàn không liên hệ được với các đơn vị tiểu đoàn. Quân Giải Phóng bị hỏa lực từ quân Mỹ đẩy lùi. Trận chiến kết thúc với thương vong nặng nề phía quân Giải Phóng. Tuy nhiên, từ trận chiến này, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tích lũy thêm được kinh nghiệm về chiến thuật đánh quân Mỹ ở quy mô dưới trung đoàn. Cũng trong tháng 11 năm 1965, giải phóng quân Việt Nam đánh trận lớn đầu tiên với quân Mỹ tại thung lũng Ia Drang.

Chiến Thuật "Nắm Thắt Lưng Địch Mà Đánh" và "Tìm Mỹ Mà Đánh, Lùng Ngụy Mà Diệt"

Những kinh nghiệm từ cuộc chiến ở thung lũng Ia Drang đã truyền cảm hứng cho chiến thuật nổi tiếng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: "nắm thắt lưng địch mà đánh". Theo chiến thuật này, quân ta sẽ đánh tập kích hoặc chớp lấy thời cơ để áp sát quân Mỹ. Khi tiến gần rồi, quân ta sẽ giao đấu cận chiến với quân Mỹ để trung hòa hỏa lực địch, hạn chế tối đa sức mạnh từ không quân và pháo binh. Chiến thuật này giúp phát huy tối đa thế chủ động của toàn quân trên chiến trường, tuy nhiên nó cũng có mặt trái là quân ta có nguy cơ chịu nhiều thương vong và tổn thất. Bên cạnh chiến thuật "nắm thắt lưng địch mà đánh", Đại tướng Nguyễn Chí Thanh còn phát động thêm phong trào "tìm Mỹ mà đánh, lùng Ngụy mà diệt", tập trung hạn chế ảnh hưởng của địch quanh vùng nông thôn, cô lập địch ở những nơi đô thị.

Chiến Lược Chung và Chiến Dịch Sa Thầy

Những chiến lược chung của ông trong thời kỳ này bao gồm liên tục tiến công địch, đồng thời vận dụng chiến lược chiến tranh nhân dân, đánh giao thông và hậu cứ của địch, từ đó phá hoại hệ thống hậu cần của quân Mỹ và khiến chính quyền Việt Nam Cộng hòa không thể ổn định được tình hình. Năm 1966, quân giải phóng triển khai chiến dịch Sa Thầy, kéo dài từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 12. Mục tiêu của chiến dịch này là tiêu diệt một lực lượng lớn địch, mở thêm mặt trận mới để giữ chân, thu hút và tiến đánh bất ngờ, tiêu hao sinh lực địch. Trong đợt một, quân ta mở thêm mặt trận mới, pháo kích, bao vây đồn biên phòng của địch, đồng thời nghi binh để đánh lừa quân đội Hoa Kỳ và quân đồng minh. Khi phát hiện chủ lực quân giải phóng, quân Mỹ đã nhanh chóng phản công. Đến ngày 26 tháng 10, quân giải phóng phản công bằng cách tập kích địch. Sau khi tạm lui, bộ chỉ huy bên ta bắt đầu triển khai chiến đấu đợt hai. Đợt hai mở đầu bằng một đợt phục kích diệt quân đội Hoa Kỳ và dẫn dụ địch vào khu vực mong muốn là cao điểm 289. Từ ngày 16 tháng 11 đến 22 tháng 11, các đơn vị cấp tiểu đoàn phối hợp với nhau để tấn công các máy bay và đại đội của Mỹ, đồng thời trấn thủ quanh các tuyến đường 18-19 để tiêu hao sinh lực kẻ địch. Tuy vậy, khi đợt ba bắt đầu, quân giải phóng đã bị máy bay của Mỹ tấn công dữ dội. Mặc dù vẫn không tiêu diệt được kẻ thù, nhưng chiến dịch này đã mở rộng thêm được địa bàn mới để chuẩn bị cho các đợt tiến công quanh các vùng đô thị.

Chiến Dịch Junction City và Đánh Giá

Cuối tháng 5 năm 1967, Mỹ mở cuộc hành quân lớn mang tên chiến dịch Junction City, kéo dài hơn 80 ngày với một lực lượng khoảng 30.000 quân. Đối phó với chiến lược này, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vẫn đề xuất chiến thuật phục kích, bảo toàn lực lượng, tránh để cho quân ta chịu thiệt hại nặng. Phương châm chủ đạo của toàn chiến dịch vẫn luôn là tận dụng tối đa lối đánh nhỏ, tuy nhiên tạo điều kiện để có thể huy động được chiến dịch trên quy mô lớn, tìm cách phản lại chiến thuật "tìm và diệt" của địch. Chiến dịch tiến hành trong ba đợt. Ban đầu, quân Mỹ chiếm được lợi thế, trong khi quân giải phóng vẫn tiến hành lối đánh du kích cơ động để bảo toàn lực lượng. Đến ngày 28 tháng 5, một tiểu đoàn quân giải phóng tiến hành một đợt phản công bằng cách tập kích sư đoàn của địch và thành công giữ chân địch trong vòng 6 tiếng đồng hồ. Quân Giải Phóng tiến hành những trận tập kích liên tiếp tại Bàu Bàng. Các đơn vị quân giải phóng bắt đầu bao vây và tập kích địch thông qua hệ thống súng cối, pháo không giật và tên lửa, trong khi mở thêm một mặt trận mới. Bị tấn công dữ dội, quân Mỹ kêu gọi các đơn vị tiếp viện đến cứu. Ngay khi nhận được viện quân để tiến hành phản công, cộng thêm với đó là máy bay Mỹ oanh kích, thế trận dần đảo chiều về phía quân Mỹ. Sau khoảng một ngày, quân giải phóng chính thức rút lui. Nhìn chung, với chiến lược phân tán lực lượng và đánh tập kích quân địch, quân giải phóng đã bảo toàn lực lượng và giữ vững được ảnh hưởng quanh vùng nông thôn. Trong khi phía quân Mỹ, mặc dù đã giành được thắng lợi về mặt chiến thuật, lại không đạt được mục tiêu chiến lược mà bản thân họ đã đề ra.

Chuẩn Bị cho Tổng Tiến Công Mậu Thân và Qua Đời

Cuối tháng 6 năm 1967, theo lệnh của Trung ương, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra miền Bắc để trực tiếp báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị về tình hình ở miền Nam. Những báo cáo và quan điểm mà ông tích lũy trong thời kỳ chiến tranh ác liệt đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng kế hoạch chiến lược chung cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Cuộc tổng tiến công sẽ diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán năm 1968. Mục tiêu của chiến dịch này sẽ đi từ giai đoạn chiến tranh du kích từ thời kháng chiến chống Pháp sang chiến tranh quy ước, đánh bất ngờ và mang tính đồng bộ cao. Quân giải phóng sẽ đi từ nông thôn phối hợp với lực lượng nhân dân bên trong thành phố để có thể nội ứng ngoại hợp, phối hợp giữa tấn công và nổi dậy ở từng khu đô thị. Chiến thuật chung thì bên cạnh đánh cận chiến còn để bộ đội tấn công theo lối đánh nhanh thắng nhanh, đánh cơ động và liên tục. Ở một số nơi nếu có điều kiện thích hợp thì sẽ chiếm đóng tạm thời để huy động nhân dân nổi dậy từ cơ sở. Quân giải phóng có thể gây nên bất ngờ lớn mà theo Tổng Bí thư Lê Duẩn nhấn mạnh là "một cú đập lớn để tung tóe ra các khả năng chính trị". Về chiến dịch này, chính quyền Việt Nam có thể ép bên Mỹ vào bàn đàm phán cũng như làm suy yếu ý chí chiến đấu của địch. Quan trọng hơn cả, chiến dịch này còn đánh dấu sự trưởng thành của quân đội nhân dân Việt Nam từ một đội quân nhỏ bé sang một quân đội chính quy hùng mạnh hiện đại và đáng gờm. Sau một khoảng thời gian về thăm gia đình và bàn bạc chiến lược, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh gấp rút chuẩn bị về Nam để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công diễn ra vào đúng tháng 1 năm sau. Thế nhưng, một ngày trước khi lên đường trở lại miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vẫn giải quyết nhiều công việc dồn dập. Tối 5 tháng 7 năm 1967, ông dùng cơm tối với Chủ tịch Hồ Chí Minh để trao đổi thêm về nhiệm vụ. Khoảng hơn 11 giờ đêm, ông mới về nghỉ và nói chuyện lần cuối với các con. Sáng sớm ngày 6 tháng 7 năm 1967, đại tướng đột ngột lên cơn đau tim, huyết áp tăng. Mặc dù đã được các bác sĩ cùng chuyên gia tim mạch cấp cứu, tuy nhiên ông vẫn không qua khỏi và vào 9 giờ sáng cùng ngày, đại tướng đã qua đời ở tuổi 53.

Tưởng Nhớ và Đánh Giá

Trước sự ra đi đột ngột của Đại tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng toàn bộ các đồng chí lãnh đạo đã vô cùng thương tiếc và đau lòng. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã viết một bài thơ để tưởng nhớ người bạn xưa. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được an táng tại nghĩa trang Mai Dịch và ngay sau khi mất đã được truy tặng huân chương Hồ Chí Minh hạng nhất. Sau này, khi đất nước đã thống nhất, ông tiếp tục được Đảng và Nhà nước truy tặng thêm nhiều huân chương cao quý khác để bày tỏ sự biết ơn với những đóng góp của Đại tướng trong cuộc kháng chiến giành độc lập và thống nhất dân tộc. Chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã nỗ lực xây dựng cũng đã có những thành quả nhất định. Mặc dù không thành công triệt để và có thương vong lớn, nhưng chiến dịch này vẫn là một thắng lợi về mặt chiến lược khi Mỹ sau đó đã buộc phải ngồi vào bàn đàm phán. 8 năm sau ngày ông mất, đất nước Việt Nam cuối cùng được thống nhất vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

AI summaries can miss context or contain errors. Check important details against the original video.

MAKE IT YOURS

Read. Remember. Reuse.

Free tools

Go a little deeper.

Have a question about this video? Load its transcript to open the video chat.